Doanh nghiệp Việt trong nền kinh tế số

Kỳ 1: Bối cảnh hoàn toàn mới và vai trò của công nghệ

  1. “Future – Now” hay bối cảnh hoàn toàn mới của nền kinh tế 4.0

Chúng ta đang chứng kiến buổi bình minh của thời đại công nghiệp 4.0 khi mà hàng loạt tiến bộ công nghệ, đặc biệt là công nghệ số bắt đầu mang lại những tiện ích vốn trước đây chỉ xuất hiện trong sách viễn tưởng, đồng thời gây ra những biến đổi sâu sắc ở nhiều khía cạnh của cuộc sống, định nghĩa lại các ngành công nghiệp, làm thay đổi các quan hệ lao động, v.v. Ngày nay, những công nghệ như đám mây (cloud), dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (AR/VR), chuỗi khối (blockchain),..không chỉ là những khái niệm thời thượng nữa mà đã thực sự được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp, giúp gia tăng đáng kể chất lượng cuộc sống của chúng ta.

Cùng lúc đó, các loại công nghệ có tính nền tảng khác như công nghệ sinh học, công nghệ nano, lượng tử, năng lượng tái tạo cũng đạt được những tiến bộ quan trọng. Sự phát triển mạnh mẽ của các loại công nghệ số và khả năng tích hợp của nhiều loại công nghệ khác nhau đang tác động mạnh mẽ tới cách chúng ta học tập, tìm kiếm thông tin, sản xuất, tiêu thụ, đi lại và đặc biệt là giao tiếp và tương tác với nhau.

Khi công nghệ 4G được nghiên cứu và phát triển, bản thân những người làm ra nó cũng không biết được sự kết hợp giữa 4G và những công nghệ khác, đặc biệt là điện toán đám mây và dữ liệu lớn đã làm xuất hiện những mô hình kinh doanh hoàn toàn mới, thường được gọi là kinh tế chia sẻ, như Uber, Airbnb, Netflix. Kỳ lạ hơn, những mô hình kinh doanh này thậm chí còn góp phần tạo ra những trào lưu xã hội mới, đó là xu hướng từ bỏ ham muốn sở hữu vật chất (đi xe chung thay vì bỏ tiền mua một chiếc xe mới) hay chào đón người lạ đến ở nhà mình (dịch vụ cho thuê phòng ngủ mà gia chủ không dùng đến trên Airbnb).

Trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta đã nhận thấy cuộc cách mạng kỹ thuật số đã làm tê liệt nhiều chiến lược kinh doanh truyền thống. Những doanh nghiệp thành lập trước thời kỳ phát triển của Internet đang đối mặt với một thách thức khắc nghiệt: rất nhiều những nguyên lý nền tảng và những giả định lâu nay chi phối doanh nghiệp và làm cho doanh nghiệp lớn mạnh không còn giá trị nữa. Cạnh tranh không còn đơn thuần diễn ra giữa các đối thủ tương đồng trong cùng ngành nữa mà ngày càng diễn ra theo hướng “bất đối xứng” giữa các đối thủ hoàn toàn khác nhau về kinh nghiệm, mô hình kinh doanh hay hệ giá trị.

Mới đây tại Hà Nội, trong một sự kiện có tên gọi “Future-Now”, thông qua việc trình diễn hàng loạt những tiến bộ công nghệ đỉnh cao như AI, AR/VR, tập đoàn Microsoft nhắn nhủ tới các đại diện doanh nghiệp rằng ngay bây giờ, chúng ta đã được chạm tới những công nghệ đến từ tương lai và doanh nghiệp cần tư duy ngay tới các nhu cầu, hành vi của khách hàng trong 5 năm, 10 năm tới nếu không muốn bị bỏ lại phía sau trong cuộc đua ngày càng khốc liệt.

 

  1. Công nghệ là công cụ chứ không phải “thượng phương bảo kiếm” quyết định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Các công nghệ mới trên thế giới, đặc biệt là công nghệ số đang biến đổi và phát triển với tốc độ vô cùng nhanh. Định luật Moore, theo đó cứ 18 tháng, hiệu suất xử lý của con chíp máy tính lại tăng gấp đôi cho đến nay vẫn đứng vững. Sự phát triển đồng thời của hàng loạt công nghệ đỉnh cao và khả năng tập trung nguồn vốn cũng như chất xám tại các trung tâm nghiên cứu xuất sắc trực thuộc các trường đại học, các tập đoàn công nghệ là lý do khiến vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn hơn. Chính vì vậy, để nhanh chóng dành lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm mới, các nhà sản xuất đang nỗ lực giảm một cách tối đa “time – to – market” hay thời gian để một ý tưởng trở thành sản phẩm thương mại. Trong ngành sản xuất ô tô, thời gian để các hãng sản xuất cho ra mắt một mẫu xe mới tính từ lúc hoàn thành bản thiết kế trước đây là khoảng 36 tháng thì hiện nay rút ngắn chỉ còn 18 đến 24 tháng. Trang web đấu giá nổi tiếng Ebay được cha đẻ của nó cho ra phiên bản thử nghiệm chỉ một ngày sau khi có ý tưởng trong đầu.

Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, chúng ta có thể phân loại công nghệ thành bốn loại: công nghệ thiết kế sản phẩm, công nghệ quy trình, công nghệ quản trị và công nghệ tiếp thị, bán hàng. Một xu hướng phổ biến là doanh nghiệp sẽ không tự mình làm chủ tất cả các loại công nghệ kể trên, thay vào đó doanh nghiệp nên tập trung làm chủ một số công nghệ lõi, hoặc chỉ tập trung vào một vài công đoạn chủ chốt trong chuỗi giá trị của sản phẩm, dịch vụ. Ngay cả những tập đoàn lớn của Nhật Bản như Honda, vốn trước đây muốn tự làm mọi thứ cho chiếc xe ô tô của họ, ngày nay cũng phải hợp tác với các đối tác sản xuất thiết bị bên ngoài khi nghiên cứu và sản xuất mẫu xe điện cho tương lai1.

Việc làm chủ công nghệ thiết kế sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải tập trung được ngân sách đủ lớn, cũng như tập hợp được nhiều chuyên gia, kỹ sư tài năng vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, đây chính là điểm yếu của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Theo một thống kê, doanh nghiệp Việt Nam chỉ dành dưới 0,5% doanh thu cho R&D, trong khi con số này là 5% với doanh nghiệp Ấn Độ và 10% với doanh nghiệp Hàn Quốc2.

Việt Nam vẫn được biết đến là quốc gia mạnh về toán học và có lợi thế về chi phí nhân công, vì vậy thiết kế, phát triển các sản phẩm phần mềm thay vì phần cứng như máy móc, thiết bị mới là lợi thế của chúng ta. Theo báo cáo của CSIRO năm 2018, ngành công nghiệp gia công phần mềm của Việt Nam tạo ra tổng doanh thu khoảng 3 tỷ đô la Mỹ năm 20163.

Hình 1: Smiling Curve (Nguồn: Wikipedia)

Ngày nay, để duy trì mức lợi nhuận cao, các thương hiệu, các nhà sản xuất trên thế giới đang hoặc cố gắng làm chủ, sở hữu một công nghệ nào đó hoặc đầu tư vào việc xây dựng thương hiệu, phân phối sản phẩm, thay vì trực tiếp sản xuất sản phẩm. Lý do là lợi nhuận ngày càng chảy về phía các doanh nghiệp phát minh ra công nghệ hoặc về phía doanh nghiệp gắn thương hiệu vào sản phẩm, còn những doanh nghiệp gia công, sản xuất hoặc chỉ phụ trách một khâu nào đó trong chuỗi giá trị của sản phẩm sẽ bị sa lầy với lợi nhuận thu về rất thấp. Hiện tượng này đã được khái quát hóa thành mô hình The Smiling Curve, tạm dịch là mô hình đường mặt cười (Xem hình 1), do Stan Shin, nhà sáng lập hãng công nghệ Acer đề xuất năm 1992.

Công nghệ quy trình, liên quan đến quá trình chuyển hóa nguyên liệu đầu vào thành sản phẩm hoàn chỉnh, thường là một phần của các hợp đồng mua sắm thiết bị hoặc dây chuyền sản xuất. Ở Việt Nam, một số doanh nghiệp, mặc dù không có khả năng phát minh ra công nghệ mới nhưng đã tập trung đầu tư vào công nghệ thiết kế sản phẩm thông qua các thỏa thuận hợp tác chiến lược với đối tác nước ngoài, hoặc đầu tư vào công nghệ tiếp thị, bán hàng, tự xây dựng thương hiệu mạnh cho sản phẩm của mình để không bị rơi vào vùng đáy của đường cong mặt cười, hay vùng có mức lợi nhuận thấp nhất.

Hàng loạt câu hỏi đang được đặt ra với phần lớn doanh nghiệp còn lại của Việt Nam mà đa số có quy mô vừa và nhỏ, đó là làm cách nào dựa vào công nghệ để phát triển? Vốn bé sao có thể đầu tư vào nghiên cứu phát triển, ngân sách hạn hẹp làm sao mua được máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại hoặc tiếp cận được các tập dữ liệu đồ sộ, tin cậy về khách hàng, v.v. Rất may, ngày nay công nghệ đám mây giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dễ dàng tiếp cận với các loại công nghệ mới nhất, có thể trả tiền dưới dạng phí thuê bao cho việc tiếp cận công nghệ hoặc dữ liệu theo nhu cầu sử dụng mà không cần phải đầu tư vào những hệ thống cồng kềnh, tốn kém.

Quan trọng hơn, công nghệ là lý do dẫn đến những thay đổi lớn trong nhiều ngành công nghiệp, nhưng công nghệ không phải là yếu tố giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, vì một khi bạn có thể tiếp cận một công nghệ nào đó thì không có lý do gì ngăn cản đối thủ cạnh tranh của bạn tiếp cận được công nghệ tương tự. Ví dụ một ngân hàng tung ra ứng dụng digital banking (ngân hàng số), mang lại lợi ích vượt trội cho khách hàng, nhưng lợi thế đó sẽ không duy trì được lâu vì các ngân hàng đối thủ sẽ nhanh chóng tung ra các ứng dụng tương tự, thậm chí với tính năng tốt hơn cho khách hàng. Tạp chí Harvard Business Review mới đây nhất đã cho đăng tải một báo cáo về chuyển đổi số (digital transformation) nhấn mạnh rằng các yếu tố như chiến lược kinh doanh, trải nghiệm khách hàng, hay tư duy thử nghiệm, chứ không phải công nghệ, mới là những yếu tố dẫn dắt quá trình chuyển đổi số trong tổ chức4.

Tóm lại, mặc dù các công nghệ mới đang không ngừng được phát triển và ngày càng tinh vi, hiện đại hơn nhưng lãnh đạo doanh nghiệp cần nhìn nhận công nghệ chỉ là phương tiện giúp doanh nghiệp vận hành trơn tru, thông minh hơn, nhưng những yếu tố khác bao gồm: tuyên bố giá trị, dữ liệu, mô hình kinh doanh và phương thức lãnh đạo, chứ không phải công nghệ, mới là những yếu tố giúp doanh nghiệp xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững. Các phần tiếp theo sẽ bàn cụ thể đến các khía cạnh quan trọng này của quá trình chuyển đổi số trong doanh nghiệp.

TS Phạm Anh Tuấn (Phó Viện trưởng Viện sáng tạo và Chuyển đổi số)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *